RSS

Monthly Archives: Tháng Mười Hai 2011

Cơ bản về lệnh Tar trên Linux


Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

Trước tiên ta cần biết lệnh Tar là gì ?
tar (Tape ARchive) là công cụ được sử dụng để gom 1 nhóm file(s) (folder là 1 loại file đặc biệt) thành 1 file duy nhất – file này được gọi là archive, hoặc để bung (xả) các file trong archive. Người dùng Linux thì chắc chắn phải biết dùng lệnh Tar. Trong bài này mình sẽ trình bày 1 vài option thông dụng của lệnh tar, và mỗi option sẽ có đi kèm với ví dụ cụ thể.

Những điều cần lưu ý : 
(Có thể mới vào đọc chưa hiểu gì, cứ biết vậy trước đã, đọc các ví dụ bên dưới rồi sẽ hiểu các lưu ý này)
_ Khi thao tác với file lưu trữ (archive) thì bắt buộc phải có option -f
_ Mặc định trong file lưu trữ không chứa đường dẫn tuyệt đối , nên sẽ tự động bỏ dấu “/” ở đầu mỗi tên file
“Removing leading `/’ from member names”
Nếu muốn giữ địa chỉ tuyệt đối thì thêm option –P . Khi giải nén nếu có –P thì sẽ giải nén theo địa chỉ tuyệt đối , nếu không có thì sẽ giải nén theo địa chỉ tương đối
_Khi tạo file lưu trữ mới trùng tên thì chương trình sẽ tự động overwrite file lưu trữ cũ mà không cần hỏi , để không overwrite thì thêm option –k . Thêm option –r thì các file mới sẽ được ghi thêm vào cuối file lưu trữ cũ. Thêm option –backup để tạo file dự phòng file lưu trữ cũ khi có overwrite
_ Mặc định tar sẽ lưu trữ đệ quy vào sâu bên trong các thư mục con , để không đệ quy thì thêm option –no-recursion (tùy phiên bản , có hoặc không) , ngược lại thêm option –recursion
_ Mặc định lệnh tar sẽ giữ nguyên permission của các file (nghĩa là không cần option –p) , nếu muốn thay đổi permission thì thêm option –no-same-permissions

Cơ bản về lệnh Tar

Đầu tiên là phải biết ý nghĩa 1 vài ký tự trong câu lệnh trước đã
image001 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> dấu “/” : current directory, đang đứng ở root directory / (giống như C:/ bên Windows vậy)
-> dấu “#” : đang thực thi với quyền root (tương tự Administrator bên Windows)
-> lệnh “ls” : list – liệt kê các file/folder tại thư mục hiện hành (tương tự lệnh dir bên Windows)

*** tạo file lưu trữ -c
# tar –cf home.tar home
-> tạo file home.tar chứa toàn bộ thư mục homes

*** tạo file lưu trữ với nhiều đối số
# tar –cf abc.tar home root etc error.log
-> tạo file lưu trữ abc.tar với các đối số là thư mục home , etc , root và file error.log

*** tạo file lưu trữ chỉ lấy các đối số nằm trên current directory

image002 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> lệnh “ls -R” : liệt kê tất cả các file từ folder cha đến con (-R : recursion – đệ quy)
Ở thư mục hiện hành có các file là a, b, c và folder A, B, C. Trong folder A có file d, e, f và folder D

image003 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> dấu “*” : tất cả
-> option –no-recursion : không đệ quy
-> tar -tf test.tar : xem nội dung file test.tar vừa tạo ở trên. Kết quả xuất ra màn hình cho biết file test.tar chứa file a, b, c và 3 folder rỗng là A, B, C

*** bung (extract) file lưu trữ -x
# tar –xf home.tar

-> extract file home.tar tại current directory
# tar –xvf home.tar –C /test

-> extract file home.tar vào thư mục /test , thêm –v để xem quá trình extract
image005 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

*** extract 1 file cụ thể
image006 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
extract file a
# tar –xf test.tar a
(file nào cần extract thì phải ghi đúng đường dẫn trong file lưu trữ)

*** extract từ vị trí 1 file cụ thể đến file cuối cùng -K
image007 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> option -tjf : xem file nén định dạng bz2 (bunzip2, sẽ trình bày bên dưới). Trong file test.bz2 có 5 file a b c d e. Ta sẽ extract từ file c đến hết. Kết quả ta sẽ có file c d e

Khi create/extract lượng dữ liệu lớn , nếu ta không thể theo dõi hết quá trình thực hiện và có thể sẽ có một vài lỗi nào đó xảy ra thì nên ghi lại những thông báo lỗi vào file log bằng cách thêm dòng lệnh 2>> <filelog> vào cuối câu lệnh.
# tar –xf test.tar 2>> error.log

*** xem cả permission trong file archive –v
image008 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
Xét folder C cụ thể : permission của nó là : drwxr-xr-x
ký tự d ở đầu thông báo C là Directory (Folder)
9 ký tự còn lại sẽ chia làm 3 nhóm : rwx r-x r-x
-> chủ nhân (người tạo file/folder) có quyền đọc (read), ghi (write) và thực thi (execute)
-> những user cùng group có quyền r-x : read và excute, không có quyền write
-> others cũng chỉ có quyền read và execute

*** tạo file lưu trữ “có chọn lọc” –exclude=<pattern>
image009 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> thư mục hiện hành có file a b c và folder D
-> tạo file test.tar chứa tất cả các file/folder tại thư mục hiện hành, ngoại trừ file a và folder D

*** thêm file vào trong file lưu trữ -r (hoặc –u)
image010 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
image011 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

(nếu tiếp tục thêm file x vào test.tar thì chương trình vẫn gắn vào cuối file test.tar , khi extract thì sẽ lấy file cuối cùng vì các file trước đã bị overwrite)
Option –u : chỉ thêm vào nếu file đó mới hơn file đã tồn tại trong file lưu trữ

*** “nối” 2 file lưu trữ với nhau –A
image012 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

1 lần chỉ nối được 2 file

*** xóa file trong file lưu trữ –delete
image013 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

*** nén/giải nén với gzip –z và bzip2 -j
image014 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> lệnh “ls -li” : liệt kê file/folder trong thư mục hiện hành 1 cách chi tiết , ở đây nói đến nén thì ta chỉ cần quan tâm đến cột dung lượng (cột ở giữa chữ root và chữ Dec), đơn vị là byte

Quá trình giải nén (thay –c bằng –x , có thể thêm –v để xem quá trình giải nén , dùng option nén nào (ở đây là –z) thì giải nén –x , hoặc xem nội dung file –t cũng phải có option đó)
image015 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
Bzip2 –j cũng tương tự gzip , bzip2 tỉ lệ nén cao hơn gzip
(nên đặt đuôi file theo đúng chuẩn để khi giải nén còn biết dùng option nào)

*** so sánh các file trong file lưu trữ với các file bên ngoài –d 
Trong file test.bz2 có 5 file là a b c d e , bên ngoài có file c d e (file c bên ngoài đã được thay đổi nội dung so với file c bên trong file nén)
image016 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> so sánh các file trong file nén test.bz2 với các file a b c d e f tại thư mục hiện hành. Kết quả :
file a và b tại thư mục hiện hành không tồn tại
file c có sự thay đổi
file d và e không có gì thay đổi

Nguồn: http://www.tailieuit.com/4r/threads/co-ban-ve-lenh-tar-tren-linux.316/

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 25/12/2011 in Linux

 

Classic Menu Indicator on Ubuntu 11.04 Natty Narwhal / Ubuntu 11.10 Oneiric Ocelot.


To install this Classic Menu applet open Terminal  and copy the following commands in the Terminal:

sudo add-apt-repository ppa:diesch/testing
sudo apt-get update
sudo apt-get install classicmenu-indicator

when installation complete logout and login back, you will see the icon of Classic menu indicator in the Unity bar, Click on the icon and list will be pop-down.

 

How To Disable Global Menu In Ubuntu 11.10


To disable the Global Menu, use the following Terminal command. Once done, log out or restart your system for changes to take effect.

sudo apt-get remove appmenu-gtk3 appmenu-gtk appmenu-qt

This process is completely revertible and the changes can be undone by re-installing the package from the below given command. Once the package is installed, restart your computer.

sudo apt-get install appmenu-gtk3 appmenu-gtk appmenu-qt
 

Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD


Grub là một thành phần quản lý khởi động của Ubuntu, thay bạn tạo ra Menu boot để vào hệ thống. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng Grub bị hỏng, không khởi động được, những lúc này, cách duy nhất để làm là cài đặt lại hệ thống. May mắn thay, đã có nhiều hướng dẫn của các chuyên gia về Linux trên toàn thế giới giúp bạn khắc phục điều này. Hôm nay, unlimited xin giới thiệu đến các bạn yêu máy tính nói chung và Linux Ubuntu nói riêng một công cụ dùng để fix và restore lại Grub (Grub2) đó là Rescatux.

Rescatux là một công cụ chạy trực tiếp trên đĩa CD dùng để phục hồi Grub/Grub 2 rất dễ dàng chỉ trong vài giây thông qua giao diện GUI (Graphic User Interface). Hơn nữa, phiên bản mới nhất của Rescatux ( xuất hiện cách đây một vài ngày) mang đến chức năng ép hệ thống tìm kiếm và phục hồi file Grub/Grub 2. Phần mềm này có thể phục hồi lại Grub vào một phân vùng MBR của mọi phiên bản phân phối của Linux, tuy nhiên tính năng vừa kể trên chỉ áp dụng được trên nền tảng Debian Linux (Ubuntu, Linux Mint và nhiều bản khác)

 

Workspace201 016 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

Để sử dụng Rescatux, bạn chỉ việc ghi ra đĩa CD hoặc tạo tính năng Bootable trên USB, sau đó Boot vào CD/USB và màn hình Grub sẽ xuất hiện :

 

Workspace201 017 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

Sau đó, bạn chọn mục “grub-install” để phục hồi Grun và cuối cùng nhấn “update-grub”, sau đó khởi động lại hệ thống.

Workspace201 018 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

 

Workspace201 018 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

 

Workspace201 019 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

Rescatux hỗ trợ Grub và cả Grub 2. Bạn có thể download tại đây

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 17/12/2011 in Linux

 

Nhãn: ,

Khắc phục lỗi khởi động của Window và Linux bằng Super Grub Disk


Bạn đã bao giờ gặp phải tình huống bật máy lên nhưng hệ thống của bạn không thể khởi động? Trong bài này chúng tôi sẽ giúp bạn khắc phục một số vấn đề trong khởi động Window và Linux bằng một công cụ nhỏ nhưng hữu ích, Super Grub Disk.

SGD có thể vòng tránh qua hoặc sửa các bộ khởi động bootloader hiện đang gặp trục trặc, những lỗi có thể khiến chúng ta mất đến cả đêm để khắc phục. Tất cả không đến 2MB. Đó là sự thật, thậm chí ứng dụng còn có thể chạy từ một floppy disk.

SGD có thể thực hiện những gì và không thể thực hiện những gì

Super Grub Disk về cơ bản là một cài đặt Grub trên CD được cấu hình một cách thông minh. Điều này có nghĩa nó có thể quản lý tất cả các nhiệm vụ một bộ bootloader có thể thực hiện, cụ thể là khởi chạy hệ điều hành của bạn. Bạn có thể sử dụng SGD để băng qua hoặc sửa chữa bootloader bị lỗi, tuy nhiên không thể khôi phục một số file bị mất hoặc chạy các trình quét virus hoặc các nhiệm vụ mức ứng dụng khác, đây cũng là nhược điểm của tiện ích nhưng chúng ta cần biết kích cỡ thực của nó để đánh giá đúng một cách công bằng.

Download Super Grub Disk

Bạn có thể download file Super Grub Disk ISO tại đây. Có nhiều phiên bản được cung cấp sẵn, mặc dù vậy chúng tôi khuyên các bạn nên download phiên bản lai gần đây nhất. Image này có thể làm việc trên cả CD và thiết bị USB.

Burn và khởi động SGD

File ISO lai có thể được cài đặt vào thiết bị CD hoặc USB, mặc dù vậy phương pháp CD vẫn là phương pháp được khuyến khích hơn cả vì các công cụ burn thường tin cậy và dễ kiếm hơn.

Từ Linux, bạn có thể burn file ISO vào CD bằng một ứng dụng burn CD chẳng hạn như tùy chọn Burn Imagecủa Brasero. Nếu muốn khởi động từ USB, công cụ UNetBootin cũng có thể giúp bạn thực hiện công việc đó.

Từ Windows, bạn có thể download tùy chọn Burn ISO Image trong chương trình burn CD ưa thích của mình hoặc sử dụng một ứng dụng burner miễn phí nào đó, chẳng hạn như Deepburner. Với USB, hãy sử dụng công cụ Lili USB Creator.

Khi hoàn tất, khởi động lại hệ thống của bạn bằng CD hoặc USB. Nếu không khởi động được SGD, bạn cần kiểm tra các thiết lập trong BIOS hệ thống của bạn để đảm bảo thiết bị mình muốn khởi động nằm ở phía trên trong danh sách ưu tiên khởi động.

super grub disk main

Vòng tránh Bootloader bị trục trặc

Đầu tiên, bạn sẽ phải bảo đảm rằng nó phát hiện được tất cả các hệ điều hành đang tồn tại. Chọn tùy chọn từ màn hình chính và thẩm định rằng các kết quả là đúng với những gì bạn đã cài đặt.

super grub disk detect

Trong ví dụ này, chúng tôi đã cài đặt Windows và Linux, tuy nhiên MBR của ổ cứng bị trục trặc nên không thể khởi động được cả hai hệ điều hành. Bằng cách chọn hệ điều hành đã được phát hiện, chúng ta có thể load Linux hoặc Windows và sử dụng các công cụ khôi phục hay sửa chữa mà hệ điều hành cung cấp.

Sửa

Như lưu ý ở trên, Super Grub Disk chỉ là một cài đặt Grub thông minh, không phải là một bộ các công cụ. Nó tuyệt vời ở chỗ kích thước nhỏ gọn chứ không có nghĩa công cụ sẽ có nhiều tính năng quan trọng như vẫn có trong các công cụ khôi phục mạnh. Grub chỉ có tiện ích dòng lệnh để giúp bạn khắc phục sự cố và sửa các vấn đề khởi động, SGD cung cấp sự truy cập đó.

Sau khi phát hiện các hệ điều hành, nhấn “c” để vào nhắc lệnh. Từ đây, bạn có thể sử dụng shell tối thiểu để thực hiện một số hành động cơ bản như phân vùng, quản lý các modul nhân, thiết lập chế độ video và một số nhiệm vụ hệ thống khác. Để có được một danh sách hoàn tất các lệnh có sẵn cho shell này, nhấn tab Tab trên dòng trống.

super grub disk shell

Kết luận

Có được một công cụ giống như Super Grub Disk chắc chắn chúng ta sẽ không phải tốn nhiều giờ trong lỗi thất vọng và tốn nhiều hơn khoảng thời gian như vậy cho việc thực hiện cài đặt lại hệ điều hành. Với các tính năng khởi động được minh chứng ở đây, SGD nên là một công cụ mà bạn cần có trong bộ kit của bạn.

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 17/12/2011 in Linux

 

How to install Tomcat 6 on Ubuntu 10.04/Debian


Apache Tomcat is a free and open source software implementation for JavaServlets, providing support for Java Server Pages (JSP). Many popular web-based applications use servlets. You may choose to run Tomcat with either Sun’s Java implementation or the OpenJDK implementation of Java.

Because Tomcat version 6 was included in Ubuntu 10.04, installing a working Tomcat server is reasonably straightforward. However, before we can start installing Tomcat itself, we must first install Java.

 

Install tomcat 6 in ubuntu 9.04

sudo apt-get install tomcat6 tomcat6-admin tomcat6-common tomcat6-user tomcat6-docs tomcat6-examples

Start tomcat server

sudo /etc/init.d/tomcat6 start

Stop tomcat server

sudo /etc/init.d/tomcat6 stop

Restart tomcat server

sudo /etc/init.d/tomcat6 restart

Get tomcat server status

sudo /etc/init.d/tomcat6 status

After installation type http://localhost:8080 or http://serverip:8080/examples/servlets/ in your browser.Now you should see tomcat welcome page

* To enable admin web based features add the following lines to your /etc/tomcat6/tomcat-user.xml

<role rolename="manager"/>
<role rolename="admin"/>
<user name="admin" password="secret_password" roles="manager,admin"/>

* you should be able to see your manage page here http://your_ip_goes_here:8080/manager/html

* log in with the name and password you just set in /etc/tomcat6/tomcat-users.xml

* ls /var/lib/tomcat6 directory.

* you should see these directories conf, logs, webapps, work

* webapps is where your servlets will go ( or at least a xml file that points to them )

* as a test download this war file http://simple.souther.us/SimpleServlet.war

* then use the tomcat management page and select war file to deploy ( in the deploy section) to upload this file to your server

* optionally just wget http://simple.souther.us/SimpleServlet.war directly to the webapps folder

* tomcat should recognize the war file and expand it with everything you need

* browse to http://serverip:8080/SimpleServlet/

Change tomcat server to run on port 80

If you want to Change tomcat server to run on port 80 follow this procedure

You need to edit the /etc/tomcat6/server.xml file

nano /etc/tomcat6/server.xml

Now replace the part that says Connector port=”8080? with Connector port=”80?

Save and exit the file

Restart tomcat server with the following command

sudo /etc/init.d/tomcat6 restart
 

Nhãn: ,

Trình soạn thảo VI trong Linux


Trình soạn thảo vi

Nội dung : Giới thiệu trình soạn thảo vi , cung cấp một số kiến thức cơ sở để có
thể soạn thảo được văn bản hay chương trình .

I. Khởi động vi :

1. Giới thiệu :
Vi (video interactif) là chương trình sọan thảo văn bản theo  trang màn hình :
– Màn hình được xem như một cửa sổ mở trên tập tin .
– Có khả năng di chuyển con trỏ đến bất kì vị trí nào trên màn hình .
– Cửa sổ có thể di chuyển tự do trên tập tin .
Phần lớn các phím dùng độc lập hoặc kết hợp với phím Shift và Ctrl để tạo ra các lệnh của vi . Khi một lệnh bị gõ sai, vi báo hiệu bằng cách nháy màn hình, kêu còi hay thông báo lỗi .
Chương trình vi được xây dựng từ chương trình soạn thảo dòng ex .Các lệnh của ex có thể được gọi khi có dấu “:” ở dòng cuối màn hình .

2. Khởi động vi :

Ta có thể gọi vi với tên tập tin văn bản :
$vi tên_tập tin
Cửa sổ soạn thảo sẽ được mở tại đầu tập tin . Nếu tập tin chưa tồn tại,nó sẽ được tạo bởi lệnh ghi . Dòng cuối cùng trên màn hình được dùng cho những công việc sau :
– Vào các lệnh .
– Thống kê .
– Báo lỗi .
Khi ta chỉ muốn xem nội dung một tập tin đã có trên đĩa , dùng lệnh :
$view tên_tập tin
Để thóat trình xem, nhấn phím ESC gõ :q! nhấn phím Enter

3.Thoát khỏi vi :
– Muốn ra khỏi vi và ghi lại nội dung tập tin, bạn nhấn phím ESC và dùng một trong các lệnh như sau :
:ZZ hoặc :wq hoặc 😡
– Thoát khỏi vi và không ghi lại các thay đổi trước đó :q!
Khi ở trong chế độ soạn thảo của vi , muốn làm việc với các lệnh SHELL, ta có thể làm như sau :
– Chạy một lệnh SHELL
:! Lệnh
– Hoặc gọi SHELL , sau đó chạy các lệnh của người dùng, khi kết thúc bấm Ctrl-D để trở lại vi :
:! sh
$ lệnh
$ Ctrl-D

II. Soạn thảo văn bản :

1. Chèn văn bản :
– Chèn ký tự trên một dòng :
a <text> <ESC>
– Chèn ký tự vào sau vị trí con trỏ . Lệnh không được hiển thị trên màn hình . Nhấn phím ESC để kết thúc chế độ chèn văn bản .
i <ESC> Xen ký tự vào sau con trỏ .
A <ESC> Xen ký tự vào cuối dòng .
i <ESC> Xen ký tự vào cuối dòng .
– Chèn dòng :
o <ESC> Xen một dòng vào trước dòng chứa con trỏ .
o <ESC> Xen một dòng vào sau dòng chứa con trỏ .

2. Di chuyển con trỏ trong tập tin :
– Theo ký tự :
Sang trái : dùng phím trượt trái hoặc h hoặc backspace
Xuống dòng : dùng phím trượt xuống hoặc j hoặc linefeed
Sang trái : dùng phím trượt phải hoặc i hoặc espace
Lên dòng : dùng phím trượt lên hoặc k hoặc
– Theo dòng :
^ về đầu dòng
$ cuối dòng
Enter đầu dòng kế tiếp
– Đầu dòng trên
0(null) về đầu dòng vật lý (dòng bắt dầu bằng dấu cách hoặc Tab)
– Theo màn hình
H về đầu màn hình (Home)
M về giữa màn hình (Miđle)
L về cuối màn hình (Last)
– Theo từ (word) :
w W về đầu từ tiếp
b B đầu từ hiện tại
e E cuối từ hiện tại
– Theo câu :
( về đầu câu
) về cuối câu
Lưu ý kết thúc một câu là dấu .! hoặc ?
– Theo cửa sổ (window):
z dòng hiện tại ở giữa cửa sổ .
z<Enter> dòng hiện tại ở đầu cửa sổ
^D dòng hiện tại ở cuối cửa sổ
^U xuống nữa cửa sổ
^F xuống một cửa sổ (-2 dòng)
^B lên một cửa sổ (-2 dòng)
Lưu ý :^là ký hiệu phím CTRL .
-Theo số thứ tự dòng :
Để hiển thị số thứ tự các dòng soạn thảo :
: set nu
Xóa bỏ hiển thị trên :
: set nonu
:n<Enter> hoặc nG Chuyển con trỏ đến dòng thứ n
:s hoặc G Đến cuối dòng văn bản
:se list hiển thị các kí tự ẩn
– Tìm theo dãy kí tự :
/ kí hiệu chiều tìn xuôi
? kí hiêụ chiều tìm ngược
/string chuyển con trỏ đến dòng chứa dãy kí tự theo chiều
xuôi
?string chuyển con trỏ đến dòng chứa dãy kí tự theo chiêu ngược
// lặp lại tìm xuôi
?? lặp lại tìm ngược

3. Xóa văn bản :
– Xóa kí tự :
x xóa kí tự taịo vị trí con trỏ
3x xóa 3 kí tự
x xóa kí tự trước vị trí con trỏ
– Xóa dòng văn bản :
dd hoặc :d<CR> xóa dòng chứa con trỏ
3dd xóa 3 dòng bắt đầu từ vị trí văn bản
d$ hoặc D xóa đến cuối dòng
dw xóa từ chứa con trỏ
3dw xóa 3 từ
d/string xóa đến khi hết dãy kí tự

4. Thay thế văn bản :
-Thay thế kí tự :
rc thay thế kí tự đại diện bằng kí tự c
R <ESC> thay thế số kí tự bằng dãy ‘text”
– Thay thế dòng :
S <ESC> xóa dòng hiện tại và thay thế nó bằng “text”
– Thay thế từ :
cw <ESC> thay thế một từ bằng “text” .
Từ được thay thế tính từ vị trí con trỏ đến kí tự $
c2w<ESC> thay 2 từ
c hoặc c$ thay thế đến cuối dòng
c/string thay thế đến hết chuỗi

5. Xóa hoặc lặp lại tập lệnh :
– Xóa lệnh
u xóa tác dụng của lệnh cuối cùng
U xóa tất cả các thay đổi đã làm trên dòng hiện tại
– Lặp lại lệnh
. lặp lại lệnh thay dổi văn bản

6. Xem trạng thái văn bản đang soạn thảo :
^G Hiển thị tên , trạng thái ,số dòng , vị trí cursor và phần văn bản tính
từ vị trí con trỏ đến cuối dòng văn bản .

7. Sao chép , di chuyển văn bản :
+ Di chuyển văn bản
Mỗi lần thực hiện một lệnh xóa (x hoặc d ) , vi đều ghi lại phần văn bản
bị xóa vào vùng đệm riêngcho đến lần xóa sau . Lệnh p hoặc P cho phép lấy
lại phần văn bản từ vùng đệm đó . Trước khi thực hiện lệnh này , dấu nháy
phải được đặt vào vị trí cùng kiểu với phần văn bản có trong vùng đệm :
– kí tự
– từ
– dòng
– cuối dòng
p sao phần văn bản xóa lần cuối vào sau đối tượng cùng kiểu
P sao phần văn bản xóa lần cuối vào trước đối tượng cùng kiểu
* cách khác để chuyển dòng :
:5, 10m 20 chuyển các dòng từ 5 đến 10 tới sau dòng 20
+ Sao chép văn bản
Lệnh y (yank) cho phép sao chép phần văn bản ta muốn vào vùng
đệm . Muốn sao phần văn bản từ vùng đệm ra, ta phải chuyển cursor đến nơi
cần sao , sau đó dùng P hoặc p
Y3w sao 3 từ vào vùng đệm
Y hoặc yy sao dòng hiện tại vào vùng đệm
5yy sao 5 dòng vào vùng đệm
Cách khác dùng để sao chép dòng :
:5, 8 t 25 sao chép các dòng từ 5 tới 8 tới sau dòng 25

III . Dùng vi với danh sách các lệnh đã chạy của Shell :

Lệnh fc (fix command ) cho phép ta soạn thảo bằng vi và chạy lại các lệnh đã chạy của Shell . Cách dùng như sau :
– Soạn thảo và cho chạy lệnh cuối cùng :
$fc
– Soạn thảo một nhóm lệnh và cho chạy :
$ fc m n
-Xem danh sách 16 lệnh cuối cùng :
$ fc -l hoặc history
$fc -lr ( danh sách theo thứ tự ngược lại )
– Tạo một tập tin chứa một số lệnh đã chạy (của history):
$fc -nl n1 n2 > cmd
cmd là một tập tin chứa các lệnh của history từ lệnh ngày đến lệnh n2 .

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 11/12/2011 in Linux

 

Cách cài đặt Teamviewer 6 trên Ubuntu 10.10 Maverick Meerkat


Trong bài viết này chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn cách cài Teamviewer 6 trên Ubuntu 10.10 Maverick Meerkat. Nếu bạn không biết Teamviewer là gì, nó là một một công cụ truy cập và hỗ trợ từ xa mà giúp bạn đăng nhập và có quyền kiểm xoát một máy tính từ xa qua internet. Phiên bản Teamviewer 6 là phiên bản mới nhất với nhiều tính năng mới và thú vị hơn các phiên bản trước.

Bắt đầu:

Đầu tiên, bạn tải Teamviewer phiên bản 32bit tại đây hoặc phiên bản 64bit tại đây.

Khi được hỏi bạn chọn ‘Open with Ubuntu Software Center (default)’

teamvier 6

Khi của sổ Software Center mở ra, bạn bấm ‘Install’

teamvier 6 2

Sau khi cài đặt xong, bạn chạy Teamviewer bằng cách vào Applications –> Internet –> TeamViewer 6.

teamvier 6 3

Thế là xong!

teamvier 6 4

Bạn dùng TeamViewer để kết nối tới máy tính của đối tác hoặc cho phép người khác truy cập vào máy tính của bạn thông qua kết nối Internet bằng cách đưa cho họ ID và mật khẩu của bạn.

 

Cần sao lưu những gì trên hệ thống Linux Home Server


Nếu bạn đang sở hữu 1 hệ thống home server hoạt động bằng Linux, thì có lẽ sẽ cần nâng cấp và cập nhật thường xuyên.

Sau đây, chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn 1 số bước cơ bản để sao lưu những thành phần cơ bản và cần thiết nhất, giúp người sử dụng tiết kiệm thời gian tối đa mỗi lần thực hiện quá trình nâng cấp.

Tuy nhiên, mỗi 1 hệ thống home server đều có sự khác biệt nhất định, do vậy hãy điều chỉnh và thay đổi cho phù hợp – đây chỉ là bài hướng dẫn nên bắt đầu từ đâu.

Thư mục /home:

Cần sao lưu những gì trên hệ thống Linux Home Server

Hãy bắt đầu với /home, thư mục gốc với từng tài khoản có trên hệ thống. Tại đây lưu trữ tất cả các file ca nhạc, video, tài liệu (trừ khi bạn để dữ liệu trên 1 phân vùng khác), và đồng thời đây cũng là nơi lưu các file cấu hình của chương trình. Bấm Ctrl + H và bạn sẽ thấy toàn bộ những file ẩn trong thư mục này. Hãy sao lưu bất cứ dữ liệu nào cần thiết, và áp dụng với từng tài khoản.

Nguồn Apt:

Danh sách các phần mềm, ứng dụng sử dụng bởi apt được cố định tại đường dẫn/etc/apt/sources.list, và những khóa gpg trong thư mục /etc/apt/sources.list.d/. Nếu đã từng có thời gian sử dụng Linux, chắc hẳn mọi người sẽ muốn cài đặt phần mềm từ những repository bên ngoài so với hệ thống mặc định. Sau khi cài lại, người sử dụng chỉ cần thay đổi thông tin của distro tương ứng (ví dụ lucid thành maverick), và copy những dòng này tới file sources.list mới. Nhưng tùy từng repository mà bạn phải download file gpg key trước khi sử dụng. 1 điều khác cần lưu ý là người dùng cũng nên ghi nhớ chính xác những gì có trên hệ thống cũ, hoặc sử dụng Ubuntu Tweak – 1 giải pháp khá tốt nếu muốn cài đặt phần mềm và repository, cũng như thay đổi các thiết lập trong hệ thống.

Các thiết lập Samba:

Nếu thiết lập và sử dụng tính năng chia sẻ Samba (với Windows) thì bạn cần phải copy file/etc/samba/smb.conf. Thực ra có rất ít sự khác biệt giữa các phiên bản với nhau, do vậy chỉ cần giữ lại file thiết lập đang sử dụng. Trong trường hợp cần phải thiết lập lại toàn bộ, hãy sử dụnggadmin-samba (trên Gnome) và KSambaPlugin (trên KDE) với smb.conf, cả 2 công cụ đều có giao diện điều khiển đồ họa, khiến cho các thao tác đơn giản và dễ dàng hơn rất nhiều.

SSH:

Trong trường hợp bạn sử dụng SSH để điều khiển và truy cập máy tính từ xa, hãy sao lưu file thiết lập của chức năng này tại /etc/ssh/ssh_config và /etc/ssh/sshd_config.

fstab:

Toàn bộ file này cố định tại thư mục /etc/fstab, nhiệm vụ chính là chỉ định file hệ thống bảng của Linux. Phải thật cẩn thận khi tiến hành áp dụng, vì bạn sẽ không thể sử dụng file fstab cũ trên hệ thống cài đặt mới. Vì tham số UUIDs sẽ thay đổi mỗi khi phân vùng được định dạng lại. Tuy nhiên, hãy giữ lại file cấu hình cũ trong file fstab, việc này thực sự hữu ích nếu hệ thống có nhiều phân vùng, các thư mục hoặc kết nối chia sẻ, thư mục gốc /home riêng biệt…  Bên cạnh đó, các bạn cũng có thể sử dụng công cụ pySDM (Gnome) hoặc mountmanager (KDE) để điều chỉnh file fstab (cả 2 đều có giao diện đồ họa).

Sao lưu chương trình:

Nếu hệ thống server được thiết lập chức năng tự động sao lưu bằng rsync hoặc Simple Backup, bạn hãy giữ lại file cấu hình của chính những công cụ đó, ví dụ file cấu hình của Rsync tại vị trí/etc/rsyncd.conf và của Simple Backup là /etc/sbackup.conf.

Các file cấu hình, thiết lập website:

Rất nhiều người sử dụng Apache, MySQL, hoặc PHP trên hệ thống để sử dụng hoặc nghiên cứu website cá nhân của họ. Và việc sao lưu những file cấu hình này khá phức tạp, tất cả đều có trong thư mục /var/www:

Nhưng có lẽ sẽ tốt hơn nếu bạn cấu hình lại toàn bộ Apache, MySQL, và PHP khi cài đặt lại hệ thống, do sự thay đổi về phiên bản sử dụng hoặc mật khẩu quản trị. Mặt khác, các bạn có thể cài thay thế bằng bộ tổ hợp LAMP quen thuộc:

sudo apt-get install lamp-server

Bên cạnh đó, hãy cài thêm phpMyAdmin để điều chỉnh cơ sở dữ liệu MySQL dễ dàng hơn:

sudo apt-get install libapache2-mod-auth-mysql phpmyadmin

Và cuối cùng, hãy nhớ thay đổi mật khẩu mặc định của những ứng dụng này trước khi sử dụng. Chúc các bạn thành công!

 

Hướng dẫn cài đặt các Font Windows trên Ubuntu


Đây là 1 trong những bước cơ bản khi thiết lập, cài đặt và sử dụng hệ điều hành Ubuntu. Một trong những bộ font được sử dụng nhiều và phổ biến nhất là bộ theo chuẩn Microsoft, ví dụ Times New Roman, Arial, Verdana… nhưng lại không có sẵn trên Ubuntu.

Cài đặt Core Microsoft Fonts

Tất cả các bộ font đều miễn phí, bạn có thể tìm và tải trên từ Software Center của Ubuntu. MởApplications > Ubuntu Software Center:

Tại ô tìm kiếm gõ từ khóa sau: ttf-mscorefonts

Sau đó, nhấn Install tại ô kết quả Installer for Microsoft TrueType core fonts:

Điền mật khẩu tài khoản sử dụng và nhấn Authenticate:

Sau đó, bộ font sẽ tự động tải và cài đặt trên hệ thống. Quá trình này sẽ diễn ra trong vòng vài phút phụ thuộc vào tốc độ kết nối Internet của bạn:

Khi kết thúc, bạn có thể log off sau đó đăng nhập để hệ thống nhận diện toàn bộ font mới. Kiểm tra lại bằng các chương trình soạn thảo văn bản (tại bài viết này chúng ta sử dụng OpenOffice Writer, ở chế độ mặc định OpenOffice sử dụng font Liberation Serif, nhưng sau khi cài đặt bộ Core Microsoft Fonts, hệ thống sẽ tự động chuyển sang Times New Roman):

Cài đặt các bộ font khác

Bên cạnh Microsoft Core Fonts, hệ thống Ubuntu Software Center có đi kèm với hàng trăm bộ font miễn phí khác có sẵn:

Khi tìm được bộ font vừa ý nào đó, kích đúp để xem ở chế độ preview và cài đặt nếu muốn:

Trên đây là 1 trong những phương pháp đơn giản nhất để bổ sung font hệ thống trong Ubuntu mà không cần phải nhớ đến những câu lệnh phức tạp.

http://www.tailieuit.com/4r/threads/huong-dan-cai-dat-cac-font-windows-tren-ubuntu.317/

Chúc các bạn thành công!