RSS

Category Archives: Linux

Linux nói chung

Cơ bản về lệnh Tar trên Linux


Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

Trước tiên ta cần biết lệnh Tar là gì ?
tar (Tape ARchive) là công cụ được sử dụng để gom 1 nhóm file(s) (folder là 1 loại file đặc biệt) thành 1 file duy nhất – file này được gọi là archive, hoặc để bung (xả) các file trong archive. Người dùng Linux thì chắc chắn phải biết dùng lệnh Tar. Trong bài này mình sẽ trình bày 1 vài option thông dụng của lệnh tar, và mỗi option sẽ có đi kèm với ví dụ cụ thể.

Những điều cần lưu ý : 
(Có thể mới vào đọc chưa hiểu gì, cứ biết vậy trước đã, đọc các ví dụ bên dưới rồi sẽ hiểu các lưu ý này)
_ Khi thao tác với file lưu trữ (archive) thì bắt buộc phải có option -f
_ Mặc định trong file lưu trữ không chứa đường dẫn tuyệt đối , nên sẽ tự động bỏ dấu “/” ở đầu mỗi tên file
“Removing leading `/’ from member names”
Nếu muốn giữ địa chỉ tuyệt đối thì thêm option –P . Khi giải nén nếu có –P thì sẽ giải nén theo địa chỉ tuyệt đối , nếu không có thì sẽ giải nén theo địa chỉ tương đối
_Khi tạo file lưu trữ mới trùng tên thì chương trình sẽ tự động overwrite file lưu trữ cũ mà không cần hỏi , để không overwrite thì thêm option –k . Thêm option –r thì các file mới sẽ được ghi thêm vào cuối file lưu trữ cũ. Thêm option –backup để tạo file dự phòng file lưu trữ cũ khi có overwrite
_ Mặc định tar sẽ lưu trữ đệ quy vào sâu bên trong các thư mục con , để không đệ quy thì thêm option –no-recursion (tùy phiên bản , có hoặc không) , ngược lại thêm option –recursion
_ Mặc định lệnh tar sẽ giữ nguyên permission của các file (nghĩa là không cần option –p) , nếu muốn thay đổi permission thì thêm option –no-same-permissions

Cơ bản về lệnh Tar

Đầu tiên là phải biết ý nghĩa 1 vài ký tự trong câu lệnh trước đã
image001 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> dấu “/” : current directory, đang đứng ở root directory / (giống như C:/ bên Windows vậy)
-> dấu “#” : đang thực thi với quyền root (tương tự Administrator bên Windows)
-> lệnh “ls” : list – liệt kê các file/folder tại thư mục hiện hành (tương tự lệnh dir bên Windows)

*** tạo file lưu trữ -c
# tar –cf home.tar home
-> tạo file home.tar chứa toàn bộ thư mục homes

*** tạo file lưu trữ với nhiều đối số
# tar –cf abc.tar home root etc error.log
-> tạo file lưu trữ abc.tar với các đối số là thư mục home , etc , root và file error.log

*** tạo file lưu trữ chỉ lấy các đối số nằm trên current directory

image002 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> lệnh “ls -R” : liệt kê tất cả các file từ folder cha đến con (-R : recursion – đệ quy)
Ở thư mục hiện hành có các file là a, b, c và folder A, B, C. Trong folder A có file d, e, f và folder D

image003 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> dấu “*” : tất cả
-> option –no-recursion : không đệ quy
-> tar -tf test.tar : xem nội dung file test.tar vừa tạo ở trên. Kết quả xuất ra màn hình cho biết file test.tar chứa file a, b, c và 3 folder rỗng là A, B, C

*** bung (extract) file lưu trữ -x
# tar –xf home.tar

-> extract file home.tar tại current directory
# tar –xvf home.tar –C /test

-> extract file home.tar vào thư mục /test , thêm –v để xem quá trình extract
image005 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

*** extract 1 file cụ thể
image006 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
extract file a
# tar –xf test.tar a
(file nào cần extract thì phải ghi đúng đường dẫn trong file lưu trữ)

*** extract từ vị trí 1 file cụ thể đến file cuối cùng -K
image007 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> option -tjf : xem file nén định dạng bz2 (bunzip2, sẽ trình bày bên dưới). Trong file test.bz2 có 5 file a b c d e. Ta sẽ extract từ file c đến hết. Kết quả ta sẽ có file c d e

Khi create/extract lượng dữ liệu lớn , nếu ta không thể theo dõi hết quá trình thực hiện và có thể sẽ có một vài lỗi nào đó xảy ra thì nên ghi lại những thông báo lỗi vào file log bằng cách thêm dòng lệnh 2>> <filelog> vào cuối câu lệnh.
# tar –xf test.tar 2>> error.log

*** xem cả permission trong file archive –v
image008 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
Xét folder C cụ thể : permission của nó là : drwxr-xr-x
ký tự d ở đầu thông báo C là Directory (Folder)
9 ký tự còn lại sẽ chia làm 3 nhóm : rwx r-x r-x
-> chủ nhân (người tạo file/folder) có quyền đọc (read), ghi (write) và thực thi (execute)
-> những user cùng group có quyền r-x : read và excute, không có quyền write
-> others cũng chỉ có quyền read và execute

*** tạo file lưu trữ “có chọn lọc” –exclude=<pattern>
image009 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> thư mục hiện hành có file a b c và folder D
-> tạo file test.tar chứa tất cả các file/folder tại thư mục hiện hành, ngoại trừ file a và folder D

*** thêm file vào trong file lưu trữ -r (hoặc –u)
image010 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
image011 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

(nếu tiếp tục thêm file x vào test.tar thì chương trình vẫn gắn vào cuối file test.tar , khi extract thì sẽ lấy file cuối cùng vì các file trước đã bị overwrite)
Option –u : chỉ thêm vào nếu file đó mới hơn file đã tồn tại trong file lưu trữ

*** “nối” 2 file lưu trữ với nhau –A
image012 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

1 lần chỉ nối được 2 file

*** xóa file trong file lưu trữ –delete
image013 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux

*** nén/giải nén với gzip –z và bzip2 -j
image014 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> lệnh “ls -li” : liệt kê file/folder trong thư mục hiện hành 1 cách chi tiết , ở đây nói đến nén thì ta chỉ cần quan tâm đến cột dung lượng (cột ở giữa chữ root và chữ Dec), đơn vị là byte

Quá trình giải nén (thay –c bằng –x , có thể thêm –v để xem quá trình giải nén , dùng option nén nào (ở đây là –z) thì giải nén –x , hoặc xem nội dung file –t cũng phải có option đó)
image015 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
Bzip2 –j cũng tương tự gzip , bzip2 tỉ lệ nén cao hơn gzip
(nên đặt đuôi file theo đúng chuẩn để khi giải nén còn biết dùng option nào)

*** so sánh các file trong file lưu trữ với các file bên ngoài –d 
Trong file test.bz2 có 5 file là a b c d e , bên ngoài có file c d e (file c bên ngoài đã được thay đổi nội dung so với file c bên trong file nén)
image016 Cơ bản về lệnh Tar trên Linux
-> so sánh các file trong file nén test.bz2 với các file a b c d e f tại thư mục hiện hành. Kết quả :
file a và b tại thư mục hiện hành không tồn tại
file c có sự thay đổi
file d và e không có gì thay đổi

Nguồn: http://www.tailieuit.com/4r/threads/co-ban-ve-lenh-tar-tren-linux.316/

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 25/12/2011 in Linux

 

Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD


Grub là một thành phần quản lý khởi động của Ubuntu, thay bạn tạo ra Menu boot để vào hệ thống. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng Grub bị hỏng, không khởi động được, những lúc này, cách duy nhất để làm là cài đặt lại hệ thống. May mắn thay, đã có nhiều hướng dẫn của các chuyên gia về Linux trên toàn thế giới giúp bạn khắc phục điều này. Hôm nay, unlimited xin giới thiệu đến các bạn yêu máy tính nói chung và Linux Ubuntu nói riêng một công cụ dùng để fix và restore lại Grub (Grub2) đó là Rescatux.

Rescatux là một công cụ chạy trực tiếp trên đĩa CD dùng để phục hồi Grub/Grub 2 rất dễ dàng chỉ trong vài giây thông qua giao diện GUI (Graphic User Interface). Hơn nữa, phiên bản mới nhất của Rescatux ( xuất hiện cách đây một vài ngày) mang đến chức năng ép hệ thống tìm kiếm và phục hồi file Grub/Grub 2. Phần mềm này có thể phục hồi lại Grub vào một phân vùng MBR của mọi phiên bản phân phối của Linux, tuy nhiên tính năng vừa kể trên chỉ áp dụng được trên nền tảng Debian Linux (Ubuntu, Linux Mint và nhiều bản khác)

 

Workspace201 016 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

Để sử dụng Rescatux, bạn chỉ việc ghi ra đĩa CD hoặc tạo tính năng Bootable trên USB, sau đó Boot vào CD/USB và màn hình Grub sẽ xuất hiện :

 

Workspace201 017 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

Sau đó, bạn chọn mục “grub-install” để phục hồi Grun và cuối cùng nhấn “update-grub”, sau đó khởi động lại hệ thống.

Workspace201 018 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

 

Workspace201 018 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

 

Workspace201 019 Sửa lỗi và phục hồi Grub từ đĩa CD YeuMayTinh.INFO 

 

Rescatux hỗ trợ Grub và cả Grub 2. Bạn có thể download tại đây

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 17/12/2011 in Linux

 

Nhãn: ,

Khắc phục lỗi khởi động của Window và Linux bằng Super Grub Disk


Bạn đã bao giờ gặp phải tình huống bật máy lên nhưng hệ thống của bạn không thể khởi động? Trong bài này chúng tôi sẽ giúp bạn khắc phục một số vấn đề trong khởi động Window và Linux bằng một công cụ nhỏ nhưng hữu ích, Super Grub Disk.

SGD có thể vòng tránh qua hoặc sửa các bộ khởi động bootloader hiện đang gặp trục trặc, những lỗi có thể khiến chúng ta mất đến cả đêm để khắc phục. Tất cả không đến 2MB. Đó là sự thật, thậm chí ứng dụng còn có thể chạy từ một floppy disk.

SGD có thể thực hiện những gì và không thể thực hiện những gì

Super Grub Disk về cơ bản là một cài đặt Grub trên CD được cấu hình một cách thông minh. Điều này có nghĩa nó có thể quản lý tất cả các nhiệm vụ một bộ bootloader có thể thực hiện, cụ thể là khởi chạy hệ điều hành của bạn. Bạn có thể sử dụng SGD để băng qua hoặc sửa chữa bootloader bị lỗi, tuy nhiên không thể khôi phục một số file bị mất hoặc chạy các trình quét virus hoặc các nhiệm vụ mức ứng dụng khác, đây cũng là nhược điểm của tiện ích nhưng chúng ta cần biết kích cỡ thực của nó để đánh giá đúng một cách công bằng.

Download Super Grub Disk

Bạn có thể download file Super Grub Disk ISO tại đây. Có nhiều phiên bản được cung cấp sẵn, mặc dù vậy chúng tôi khuyên các bạn nên download phiên bản lai gần đây nhất. Image này có thể làm việc trên cả CD và thiết bị USB.

Burn và khởi động SGD

File ISO lai có thể được cài đặt vào thiết bị CD hoặc USB, mặc dù vậy phương pháp CD vẫn là phương pháp được khuyến khích hơn cả vì các công cụ burn thường tin cậy và dễ kiếm hơn.

Từ Linux, bạn có thể burn file ISO vào CD bằng một ứng dụng burn CD chẳng hạn như tùy chọn Burn Imagecủa Brasero. Nếu muốn khởi động từ USB, công cụ UNetBootin cũng có thể giúp bạn thực hiện công việc đó.

Từ Windows, bạn có thể download tùy chọn Burn ISO Image trong chương trình burn CD ưa thích của mình hoặc sử dụng một ứng dụng burner miễn phí nào đó, chẳng hạn như Deepburner. Với USB, hãy sử dụng công cụ Lili USB Creator.

Khi hoàn tất, khởi động lại hệ thống của bạn bằng CD hoặc USB. Nếu không khởi động được SGD, bạn cần kiểm tra các thiết lập trong BIOS hệ thống của bạn để đảm bảo thiết bị mình muốn khởi động nằm ở phía trên trong danh sách ưu tiên khởi động.

super grub disk main

Vòng tránh Bootloader bị trục trặc

Đầu tiên, bạn sẽ phải bảo đảm rằng nó phát hiện được tất cả các hệ điều hành đang tồn tại. Chọn tùy chọn từ màn hình chính và thẩm định rằng các kết quả là đúng với những gì bạn đã cài đặt.

super grub disk detect

Trong ví dụ này, chúng tôi đã cài đặt Windows và Linux, tuy nhiên MBR của ổ cứng bị trục trặc nên không thể khởi động được cả hai hệ điều hành. Bằng cách chọn hệ điều hành đã được phát hiện, chúng ta có thể load Linux hoặc Windows và sử dụng các công cụ khôi phục hay sửa chữa mà hệ điều hành cung cấp.

Sửa

Như lưu ý ở trên, Super Grub Disk chỉ là một cài đặt Grub thông minh, không phải là một bộ các công cụ. Nó tuyệt vời ở chỗ kích thước nhỏ gọn chứ không có nghĩa công cụ sẽ có nhiều tính năng quan trọng như vẫn có trong các công cụ khôi phục mạnh. Grub chỉ có tiện ích dòng lệnh để giúp bạn khắc phục sự cố và sửa các vấn đề khởi động, SGD cung cấp sự truy cập đó.

Sau khi phát hiện các hệ điều hành, nhấn “c” để vào nhắc lệnh. Từ đây, bạn có thể sử dụng shell tối thiểu để thực hiện một số hành động cơ bản như phân vùng, quản lý các modul nhân, thiết lập chế độ video và một số nhiệm vụ hệ thống khác. Để có được một danh sách hoàn tất các lệnh có sẵn cho shell này, nhấn tab Tab trên dòng trống.

super grub disk shell

Kết luận

Có được một công cụ giống như Super Grub Disk chắc chắn chúng ta sẽ không phải tốn nhiều giờ trong lỗi thất vọng và tốn nhiều hơn khoảng thời gian như vậy cho việc thực hiện cài đặt lại hệ điều hành. Với các tính năng khởi động được minh chứng ở đây, SGD nên là một công cụ mà bạn cần có trong bộ kit của bạn.

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 17/12/2011 in Linux

 

Trình soạn thảo VI trong Linux


Trình soạn thảo vi

Nội dung : Giới thiệu trình soạn thảo vi , cung cấp một số kiến thức cơ sở để có
thể soạn thảo được văn bản hay chương trình .

I. Khởi động vi :

1. Giới thiệu :
Vi (video interactif) là chương trình sọan thảo văn bản theo  trang màn hình :
– Màn hình được xem như một cửa sổ mở trên tập tin .
– Có khả năng di chuyển con trỏ đến bất kì vị trí nào trên màn hình .
– Cửa sổ có thể di chuyển tự do trên tập tin .
Phần lớn các phím dùng độc lập hoặc kết hợp với phím Shift và Ctrl để tạo ra các lệnh của vi . Khi một lệnh bị gõ sai, vi báo hiệu bằng cách nháy màn hình, kêu còi hay thông báo lỗi .
Chương trình vi được xây dựng từ chương trình soạn thảo dòng ex .Các lệnh của ex có thể được gọi khi có dấu “:” ở dòng cuối màn hình .

2. Khởi động vi :

Ta có thể gọi vi với tên tập tin văn bản :
$vi tên_tập tin
Cửa sổ soạn thảo sẽ được mở tại đầu tập tin . Nếu tập tin chưa tồn tại,nó sẽ được tạo bởi lệnh ghi . Dòng cuối cùng trên màn hình được dùng cho những công việc sau :
– Vào các lệnh .
– Thống kê .
– Báo lỗi .
Khi ta chỉ muốn xem nội dung một tập tin đã có trên đĩa , dùng lệnh :
$view tên_tập tin
Để thóat trình xem, nhấn phím ESC gõ :q! nhấn phím Enter

3.Thoát khỏi vi :
– Muốn ra khỏi vi và ghi lại nội dung tập tin, bạn nhấn phím ESC và dùng một trong các lệnh như sau :
:ZZ hoặc :wq hoặc 😡
– Thoát khỏi vi và không ghi lại các thay đổi trước đó :q!
Khi ở trong chế độ soạn thảo của vi , muốn làm việc với các lệnh SHELL, ta có thể làm như sau :
– Chạy một lệnh SHELL
:! Lệnh
– Hoặc gọi SHELL , sau đó chạy các lệnh của người dùng, khi kết thúc bấm Ctrl-D để trở lại vi :
:! sh
$ lệnh
$ Ctrl-D

II. Soạn thảo văn bản :

1. Chèn văn bản :
– Chèn ký tự trên một dòng :
a <text> <ESC>
– Chèn ký tự vào sau vị trí con trỏ . Lệnh không được hiển thị trên màn hình . Nhấn phím ESC để kết thúc chế độ chèn văn bản .
i <ESC> Xen ký tự vào sau con trỏ .
A <ESC> Xen ký tự vào cuối dòng .
i <ESC> Xen ký tự vào cuối dòng .
– Chèn dòng :
o <ESC> Xen một dòng vào trước dòng chứa con trỏ .
o <ESC> Xen một dòng vào sau dòng chứa con trỏ .

2. Di chuyển con trỏ trong tập tin :
– Theo ký tự :
Sang trái : dùng phím trượt trái hoặc h hoặc backspace
Xuống dòng : dùng phím trượt xuống hoặc j hoặc linefeed
Sang trái : dùng phím trượt phải hoặc i hoặc espace
Lên dòng : dùng phím trượt lên hoặc k hoặc
– Theo dòng :
^ về đầu dòng
$ cuối dòng
Enter đầu dòng kế tiếp
– Đầu dòng trên
0(null) về đầu dòng vật lý (dòng bắt dầu bằng dấu cách hoặc Tab)
– Theo màn hình
H về đầu màn hình (Home)
M về giữa màn hình (Miđle)
L về cuối màn hình (Last)
– Theo từ (word) :
w W về đầu từ tiếp
b B đầu từ hiện tại
e E cuối từ hiện tại
– Theo câu :
( về đầu câu
) về cuối câu
Lưu ý kết thúc một câu là dấu .! hoặc ?
– Theo cửa sổ (window):
z dòng hiện tại ở giữa cửa sổ .
z<Enter> dòng hiện tại ở đầu cửa sổ
^D dòng hiện tại ở cuối cửa sổ
^U xuống nữa cửa sổ
^F xuống một cửa sổ (-2 dòng)
^B lên một cửa sổ (-2 dòng)
Lưu ý :^là ký hiệu phím CTRL .
-Theo số thứ tự dòng :
Để hiển thị số thứ tự các dòng soạn thảo :
: set nu
Xóa bỏ hiển thị trên :
: set nonu
:n<Enter> hoặc nG Chuyển con trỏ đến dòng thứ n
:s hoặc G Đến cuối dòng văn bản
:se list hiển thị các kí tự ẩn
– Tìm theo dãy kí tự :
/ kí hiệu chiều tìn xuôi
? kí hiêụ chiều tìm ngược
/string chuyển con trỏ đến dòng chứa dãy kí tự theo chiều
xuôi
?string chuyển con trỏ đến dòng chứa dãy kí tự theo chiêu ngược
// lặp lại tìm xuôi
?? lặp lại tìm ngược

3. Xóa văn bản :
– Xóa kí tự :
x xóa kí tự taịo vị trí con trỏ
3x xóa 3 kí tự
x xóa kí tự trước vị trí con trỏ
– Xóa dòng văn bản :
dd hoặc :d<CR> xóa dòng chứa con trỏ
3dd xóa 3 dòng bắt đầu từ vị trí văn bản
d$ hoặc D xóa đến cuối dòng
dw xóa từ chứa con trỏ
3dw xóa 3 từ
d/string xóa đến khi hết dãy kí tự

4. Thay thế văn bản :
-Thay thế kí tự :
rc thay thế kí tự đại diện bằng kí tự c
R <ESC> thay thế số kí tự bằng dãy ‘text”
– Thay thế dòng :
S <ESC> xóa dòng hiện tại và thay thế nó bằng “text”
– Thay thế từ :
cw <ESC> thay thế một từ bằng “text” .
Từ được thay thế tính từ vị trí con trỏ đến kí tự $
c2w<ESC> thay 2 từ
c hoặc c$ thay thế đến cuối dòng
c/string thay thế đến hết chuỗi

5. Xóa hoặc lặp lại tập lệnh :
– Xóa lệnh
u xóa tác dụng của lệnh cuối cùng
U xóa tất cả các thay đổi đã làm trên dòng hiện tại
– Lặp lại lệnh
. lặp lại lệnh thay dổi văn bản

6. Xem trạng thái văn bản đang soạn thảo :
^G Hiển thị tên , trạng thái ,số dòng , vị trí cursor và phần văn bản tính
từ vị trí con trỏ đến cuối dòng văn bản .

7. Sao chép , di chuyển văn bản :
+ Di chuyển văn bản
Mỗi lần thực hiện một lệnh xóa (x hoặc d ) , vi đều ghi lại phần văn bản
bị xóa vào vùng đệm riêngcho đến lần xóa sau . Lệnh p hoặc P cho phép lấy
lại phần văn bản từ vùng đệm đó . Trước khi thực hiện lệnh này , dấu nháy
phải được đặt vào vị trí cùng kiểu với phần văn bản có trong vùng đệm :
– kí tự
– từ
– dòng
– cuối dòng
p sao phần văn bản xóa lần cuối vào sau đối tượng cùng kiểu
P sao phần văn bản xóa lần cuối vào trước đối tượng cùng kiểu
* cách khác để chuyển dòng :
:5, 10m 20 chuyển các dòng từ 5 đến 10 tới sau dòng 20
+ Sao chép văn bản
Lệnh y (yank) cho phép sao chép phần văn bản ta muốn vào vùng
đệm . Muốn sao phần văn bản từ vùng đệm ra, ta phải chuyển cursor đến nơi
cần sao , sau đó dùng P hoặc p
Y3w sao 3 từ vào vùng đệm
Y hoặc yy sao dòng hiện tại vào vùng đệm
5yy sao 5 dòng vào vùng đệm
Cách khác dùng để sao chép dòng :
:5, 8 t 25 sao chép các dòng từ 5 tới 8 tới sau dòng 25

III . Dùng vi với danh sách các lệnh đã chạy của Shell :

Lệnh fc (fix command ) cho phép ta soạn thảo bằng vi và chạy lại các lệnh đã chạy của Shell . Cách dùng như sau :
– Soạn thảo và cho chạy lệnh cuối cùng :
$fc
– Soạn thảo một nhóm lệnh và cho chạy :
$ fc m n
-Xem danh sách 16 lệnh cuối cùng :
$ fc -l hoặc history
$fc -lr ( danh sách theo thứ tự ngược lại )
– Tạo một tập tin chứa một số lệnh đã chạy (của history):
$fc -nl n1 n2 > cmd
cmd là một tập tin chứa các lệnh của history từ lệnh ngày đến lệnh n2 .

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 11/12/2011 in Linux

 

Phục hồi chế độ Dual Boot sau khi cài Windows


Tháng trước tôi đã làm hỏng Grub2 vì cài Windows 7 lênh máy tính để bàn của tôi. Thật khó để phục hồi nó vì ít tài liệu về cách phục hồi, sau một thời gian tìm tòi tôi đã phục hồi lại chế độ Dual Boot, tôi muốn chia sẻ cách tôi phục hồi Grub2 cho các bạn:

Bạn cần có đĩa LIVE CD nếu bạn phục hồi Ubuntu. Mở hệ thống với Live CD (Giả sử bạn đang dùng đĩa CD Ubuntu Live). Ấn Alt+F2 và gõ lệnh gnome-terminal. Và tiếp tục bằng cách gõ :

$sudo fdisk -l

Sau khi gõ lệnh xong thì màn hình sẽ hiện ra danh sách tương tự như sau:

/dev/sda1 29 8369 66999082+ 83 Linux
/dev/sda2 * 8370 13995 45190845 7 HPFS/NTFS
/dev/sda3 13996 14593 4803435 5 Extended
/dev/sda5 13996 14593 4803403+ 82 Linux swap / Solaris

Trên danh sách của tôi thì Linux được cài ở /dev/sda1. Bạn gõ các lệnh sau:

$sudo mount /dev/sda1 /mnt
$sudo mount –bind /dev /mnt/dev
$sudo mount –bind /proc /mnt/proc

Lệnh sau có thể dùng hoặc không (nó sao chép tập tin resolv.conf)

$sudo cp /etc/resolv.conf /mnt/etc/resolv.conf

chroot vào môi trường chúng ta làm việc:

sudo chroot /mnt

Sau khi chroot, bạn không cần phải thêm sudo vào phía trước câu lệnh bởi vì từ bây giờ bạn chạy lệnh như là người dùng root.

Bạn có thể muốn sửa tập tint /etc/default/grub phù hợp với hệ thống của bạn (thời gian chờ ..vv.v)

#nano -w /etc/default/grub

Tùy biến các tùy chọn theo ý của bạn.(Nhưng đừng quên dùng lệnh grub-update nếu bạn đã lưu nó  )

Cài đặt / phục hồi Grub2 bằng dòng lệnh :

#grub-install /dev/sda

Tuy nhiên bạn có thể gặp lỗi giống với tôi. Nếu xảy ra dùng lệnh này:

#grub-install –recheck /dev/sda

Bây giờ bạn có thể thoát khỏi chroot, umount hệ thống và khởi động lại máy :

#exit
$sudo umount /mnt/dev
$sudo umount /mnt/proc
$sudo umount /mnt
$sudo reboot

Sưu Tầm

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 11/12/2011 in Linux

 

Cách kiểm tra cổng nào mở trong Linux


Vì một lý do nào đó mà bạn cần kiểm tra một hoặc nhiều cổng trên hệ thống của bạn có mở hay không. Những ví dụ dưới đây sẽ chỉ rõ cách kiểm tra cổng mở trên Linux.

“Cách kiểm tra cổng mở trong Linux”

Cách  1:
Kiểm tra tập tin /etc/services

planetmy:/ # cat /etc/services | grep xxx (xxx = số cổng)

Nếu sau khi gõ lệnh mà không có gì xảy ra nghĩa là không có cổng nào được cấu hình phù hợp với số cổng mà bạn định kiểm tra. Ví dụ cổng SSH/22, thì bạn có thể nhìn thấy như sau:

ssh 22/tcp # SSH Remote Login Protocol
ssh 22/udp # SSH Remote Login Protocol

Cách 2:
Sử dụng lệnh netstat – In ra số kết nối mạng, bảng định tuyến, thống kê các giao tiếp..vv.

planetmy:/ # netstat -nan | grep 22
tcp 0 0 0.0.0.0:22 0.0.0.0:* LISTEN 7110/sshd

Nếu trên màn hình hiển thị ‘LISTEN’, nghĩ là cổng cần kiểm tra đang mở.

Cách 3:
Dùng lệnh lsof – liệt kê các tập tin đang mở

planetmy:/ # lsof -i -n -P|grep 631
cupsd 17934 lp 0u IPv4 56540196 TCP *:631 (LISTEN)
cupsd 17934 lp 2u IPv4 56540197 UDP *:631

 

Cách 4:
Dùng lệnh nmap – Công cụ kiểm tra mạng và rà soát bảo mật

planetmy:/ # nmap -sS -O 192.168.1.2
Starting nmap 3.50 ( http://www.insecure.org/nmap/ ) at 2008-09-12 10:13 GMT
Interesting ports on 192.168.1.2:
(The 1655 ports scanned but not shown below are in state: closed)
PORT STATE SERVICE
22/tcp open ssh
111/tcp open rpcbind
427/tcp open svrloc
631/tcp open ipp
Device type: general purpose
Running: Linux 2.4.X|2.5.X
OS details: Linux Kernel 2.4.0 – 2.5.20, Linux Kernel 2.4.18 – 2.5.70 (X86)
Nmap run completed — 1 IP address (1 host up) scanned in 4.146 seconds

Nếu màn hình hiển thị tương tự như trên nghĩa là dịch vụ SSH đang chạy trên cổng 22.

Cách  5:
Dùng lệnh telnet – giao tiếp người dùng với giao thức TELNET

planetmy:/ # telnet 192.168.1.2 22
Trying 192.168.1.2…
Connected to 192.168.1.2.
Escape character is ‘^]’.
SSH-1.99-OpenSSH_4.2

Nếu màn hình hiển thị như trên nghĩa là cổng dịch vụ SSH là 22 đang mở

planetmy:/ # telnet 192.168.1.2 122
Trying 192.168.1.2…
telnet: connect to address 192.168.1.2: Connection refused

Nếu màn hình hiển thị như trên nghĩa là cổng 122 đang đóng.

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 11/12/2011 in Linux

 

Các cắt và ghép file trong Linux/Ubuntu


Bạn tải các file trên mạng về các chúng có phần mở rộng là .001 .002 .003. Bạn có biết cách ghép chúng lại chứ ? Trong bài viết này chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn cách ghép và chia các file trong linux/ubuntu.

split_join_file

Sau đây là cách ghép và chia các file

Cách ghép các file:

Bạn có thể dùng lệnh cat hoặc tải công cụ lxsplit.

Vào thư mục chứa các file đã bị cắt nhỏ ( các file có phần mở rộng như .001 .002) và đánh lệnh sau:

$cat file.avi.001 file.avi.002 > file.avi

trong đó: file.avi.001 và file.avi.002 là các file bị chia nhỏ, file.avi là tập tin sau khi đã ghép các file 001 và 002 lại.

hoặc

tải và sử dụng công cụ lxsplit (có cả bản cài từ tập tin .deb) , vào thư mục chứa các tập tin bị chia nhỏ và đánh lệnh :

$lxsplit -j file.avi.001

Cách chia các file:

Ví dụ bạn chia file của bạn thành các file nhỏ mỗi file có dung lượng 99M bằng công cụ lxsplit :

$lxsplit -s file.avi 99M

Lưu ý : Ngoài lxsplit còn có công cụ HJsplit dùng để chia các file. Tuy nhiên nó không tốt bằng lxsplit.

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 11/12/2011 in Linux

 

Tmux on linux


sau khi cài Tmux xong,các bạn có thể cấu hình nó bằng dòng lệnh sau:

nano  ~/.tmux.conf

và copy nguyên các dòng dưới đây,past vào file tmux.conf

  1. # Change the prefix key (screen friendly).
  2. set-option -g prefix C-a
  3. unbind-key C-b
  4. bind-key C-a send-prefix
  5. # Default global options.
  6. set-option -g bell-action none
  7. set-option -g default-terminal “screen-256color”
  8. set-option -g mouse-select-pane on
  9. set-option -g status-bg green
  10. set-option -g status-keys vi
  11. set-option -g status-right-length 60
  12. # Default global window options
  13. set-window-option -g mode-keys vi
  14. set-window-option -g mode-mouse on
  15. set-window-option -g utf8 on
  16. # Keys to switch session.
  17. bind-key q switchc -t0
  18. bind-key w switchc -t1
  19. bind-key e switchc -t2
  20. # Other key bindings.
  21. bind-key i choose-window
  22. bind-key m setw monitor-activity
  23. bind-key y setw force-width 81
  24. bind-key u setw force-width 0
  25. bind-key D detach \; lock
  26. bind-key N neww \; splitw -d
  27. # statusbar ————————————————————–
  28. # Show messages and notifications for 2 seconds.
  29. set-option -g display-time 2000
  30. # Refresh the status bar every 1 second.
  31. set-option -g status-interval 1000
  32. # The status bar itself.
  33. set-option -g status-left “[#S]”
  34. set-option -g status-right “#(uptime)”
  35. # default statusbar colors
  36. set-option -g status-fg black
  37. set-option -g status-bg white
  38. set-option -g status-attr default
  39. # default window title colors
  40. set-window-option -g window-status-fg white
  41. set-window-option -g window-status-bg black
  42. set-window-option -g window-status-attr dim
  43. # active window title colors
  44. set-window-option -g window-status-current-fg white
  45. set-window-option -g window-status-current-bg black
  46. set-window-option -g window-status-current-attr default
  47. # command/message line colors
  48. set-option -g message-fg white
  49. set-option -g message-bg black
  50. set-option -g message-attr default

sau đó lưu file trên lại

Sau khi cấu hình xong,thì mặc định chuyển từ Ctrl-b sang Ctrl-a,

và các bạn có thể dùng như thường rồi.

ok!

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 10/12/2011 in Linux

 

Nhãn:

Tải tập tin bằng lệnh wget trong linux


1. Tại sao dùng wget?

Trong môi trường UNIX/Linux, chúng ta có thể di chuyển tới các thư mục một cách nhanh chóng bằng lệnh cd (change directory) trong cửa sổ lệnh Terminal. Nếu một lúc nào đó chúng ta muốn lấy một tập tin từ Internet về và lưu ở thư mục hiện hành thì sẽ mất nhiều thời gian hơn khi như phải sử dụng trình duyệt web để tải tập tin và lựa chọn thư mục để chứa tập tin ấy. Với công cụ wget sẵn có trong UNIX/Linux, chúng ta có thể tải trực tiếp tập tin về thư mục hiện hành.

2.Dùng wget như thế nào?

Cấu trúc lệnh cơ bản của wget chỉ ngắn gọn như sau:

wget http://địa-chỉ-trang-web/tập-tin

Chẳng hạn như chúng ta muốn tải một tập tin MP3 vào thư mục dành riêng cho MP3 (/media/Data/Audio/Music/), chúng ta chỉ cần 2 câu lệnh sau:

cd /media/Data/Audio/Music
wget http://địa-chỉ-trang-web/tập-tin.mp3

Trong trường hợp muốn xem qua mã HTML của một trang web hoặc nội dung một tập tin văn bản dạng text, chúng ta cũng có thể dùng wget thay vì mở địa chỉ ở trình duyệt:

wget -q -O - http://địa-chỉ-trang-web/tập-tin

3. Dùng wget qua proxy

Trong một số trường hợp, chúng ta không thể tải trực tiếp dữ liệu từ một trang web, mà cần phải truy cập qua một proxy trung gian. Chúng ta có thể cài đặt thông số proxy cho trình duyệt web, nhưng việc đó sẽ làm chúng ta mất nhiều thời gian nếu như chỉ để tải 1 tập tin từ 1 trang web nào đó rồi lại gỡ bỏ các thông số proxy khỏi trình duyệt.

Chỉ bằng 1 câu lệnh đơn giản trong cửa sổ lệnh Terminal, chúng ta đã có thể dùngwget một cách bình thường. Câu lệnh này giúp chúng ta truy cập các địa chỉ web qua proxy:

export HTTP_PROXY="http://địa-chỉ-proxy:cổng-proxy/"

Khi đó câu lệnh wget có thể được sử dụng bình thường như trước. Trong trường hợp bạn cần tải tập tin từ một địa chỉ qua giao thức FTP thì bạn cần thêm biến FTP_PROXY theo cách tương tự:

export FTP_PROXY="http://địa-chỉ-proxy:cổng-proxy/"

Bạn lưu ý là mặc dù thiết lập chế độ sử dụng proxy cho giao thức FTP nhưng giao thức của địa chỉ proxy vẫn phải là “http”.

Sau khi tải tập tin bằng wget xong, nếu bạn muốn xóa bỏ chế độ sử dụng proxy thì dùng câu lệnh:

env -u HTTP_PROXY

và/hoặc

env -u FTP_PROXY

hay chỉ đơn giản là khởi động lại máy tính, vì biến môi trường tạo bởi lệnh exportkhông được lưu trữ vĩnh viễn, mà cần được khởi tạo lại nếu cần, mỗi khi máy tính đã được khởi động lại.

Nguồn: Sưu tầm

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 10/12/2011 in Linux

 

Lệnh init trong linux


 

init là cha của tất cả các process. Vai trò chính của init là tạo ra các process bằng chạy các chương trình được quy định trong tập tin /etc/inittab. Mỗi init sẽ có các process khác nhau. Trong linux có 6 mức khởi động (run level):


– Run level 0 (init 0): chế độ tắt máy.
– Run level 1 (init 1): chế độ này chỉ sử dụng được 1 người dùng.
– Run level 2 (init 2): chế độ đa người dùng nhưng không có dịch vụ NFS.
– Run level 3 (linit 3): chế độ đa người dùng, có đầy đủ các dịch vụ.
– Run level 4 (linit 4): chưa được sử dụng.
– Run level 5 (linit 5): chế độ đồ họa.
– Run level 6 (linit 6): khởi động lại máy.
– Cú pháp: # init
– Ví dụ:
+ Dùng lệnh init 0 để tắt máy:
# init 0
+ Để khởi động lại máy tính ta dùng lệnh:
# init 6
+ Khi đang ở chế độ đồ họa ta có thể chuyển sang chế độ dòng lệnh (text mode) bằng cách dùng lệnh:
# init 3
+ Ngược lại, khi đang ở chế độ dòng lệnh ta có thể chuyển sang chế độ đồ họa bằng cách dùng lệnh:
# init 5
– Tập tin cấu hình: /etc/inittab
Khi khởi động máy tính, Linux sẽ đọc trong tập tin /etc/inittab để chọn chế độ khởi động. Cụ thể là dòng id::initdefault:

– Do đó, ta có thể chỉnh sửa chế độ khởi động bằng cách thay đổi run level ngay dòng này.
– Ví dụ: mặc định cho Linux khởi động vào chế độ dòng lệnh ta thay dòng trên thành:
id:3:initdefault
– Lưu ý: không được set dòng này ở hai run level là 0 và 6.

Nguồn: Sưu tầm

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên 10/12/2011 in Linux